GẶP LẠI NGƯỜI LÍNH TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM GỐC BỈ

GẶP LẠI NGƯỜI LÍNH TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM GỐC BỈ

                                                                      

          Tên thật của anh là Frans de Boel, người gốc Bỉ. Khi còn ở Việt Nam, anh lấy tên là Phan Lăng để kỷ niệm về người cán bộ binh vận Việt Nam mà anh được tiếp xúc đầu tiên. Khi sang Lào thì nhân dân bạn lại đặt tên cho anh là Bun Mi, nghĩa là “có phúc”.

        Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, anh trở thành tù binh của Pháp rồi bị sung vào lính lê dương đưa sang chiến trường Việt Nam. Ngày 06 - 02 - 1949, tại Đà Nẵng, anh đã tìm cách chạy sang hàng ngũ quân đội quốc gia Việt Nam (tên gọi tiền thân của QĐNDVN thời kỳ 1945-1950), mang theo một trung liên Bren, hai súng trường... và không quên đôi găng đánh bốc, môn thể thao sở trường của anh. Anh được bộ đội ta thu nhận và biên chế về Đại đội 9 độc lập hoạt động tại vùng Ái Nghĩa, Đại Lộc thuộc mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng. Người được giao trách nhiệm giúp đỡ anh lúc bấy giờ là anh Việt Hồ và anh Bùi Công Danh.

       Phan Lăng được xem như là một quân nhân thuộc C bộ, được hưởng tiêu chuẩn đặc biệt, một ngày ăn là 1 kg gạo (tiêu chuẩn chung là 0,6 kg), tiền thức ăn gấp đôi, áo quần ngoại cỡ... Phan Lăng lúc bấy giờ khoảng 25 - 26 tuổi, cao lớn và khá đẹp trai, có nước da đỏ như gà chọi, rất hiền lành và rất dễ hòa mình với quần chúng.

        Một hôm, đại đội trưởng Quyết Chiến cho gọi Công Danh lên hỏi:

      - Tại sao hôm nay Phan Lăng bỏ ăn. Anh cho gọi y tá lên xem cậu ta đau ốm gì?

         Anh Danh rất ngạc nhiên nhưng vẫn gọi y tá đến thăm Phan Lăng. Nhưng hóa ra không phải Phan Lăng ốm, mà vì mấy hôm nay anh buồn, động viên gặng hỏi mãi Phan Lăng mới nó thật: Mọi người trong đại đội xem tôi như con mèo.

        - Sao lại thế? Có ai xem Phan Lăng như con mèo đâu? Ai cũng thương Phan Lăng cơ mà? Thế có anh em nào nói bậy bạ với Phan Lăng không?

        Danh ôn tồn hỏi lại.

        - Không phải thế. Tôi bỏ hàng ngũ của thực dân Pháp ra tìm bộ đội Việt Minh không phải vì sợ chết...

        Cuối cùng mọi việc cũng rõ, hóa ra lâu nay đại đội trưởng chỉ muốn dùng anh làm địch vận kêu gọi lính Pháp mà không giao cho anh nhiệm vụ chiến đấu. Ban chỉ huy Đại đội họp, bàn bạc và nhất trí quyết định cho Phan Lăng chuyển sang bộ phận trực tiếp chiến đấu. Giao cho anh giữ khẩu trung liên Bren của Trung đội 1, hỏa lực đáng kể nhất của đơn vị khi ấy.

      Tháng 8-1949, Đại đội 9 nhận nhiệm vụ công đồn Núi Lỡ, xã Đại Quang - Đại Lộc. Đây là đợt thử thách đầu tiên và rất quan trọng đối với Phan Lăng. Trận đánh diễn ra ác liệt, Phan Lăng ở bộ phận hỏa lực của mũi chủ công. Anh sử dụng vũ khí thành thạo, hiệu quả, chiến đấu rất dũng cảm và đã bị thương ở bên ngực khi đang quét địch cố thủ trong lô cốt.

       Trận đánh Núi Lỡ thắng lợi hoàn toàn, trong đó, Phan Lăng đã thể hiện được lòng dũng cảm của mình. Đơn vị đưa anh về Đại Hồng, Đại Lãnh để chữa trị. Các mẹ, các chị đã rất tận tình chăm sóc cho anh. Phan Lăng vui sướng lắm, anh cảm động nói với mọi người: “Tôi cảm ơn các mẹ, các chị và anh em đơn vị đã đem lại cho tôi cuộc sống mới”. Vết thương chưa thật lành hẳn nhưng nghe tin chiến dịch Đông Xuân 1949 - 1950 sắp mở ở Quảng Nam - Đà Nẵng, anh đã xin đi theo đơn vị ngay.

       Anh lập chiến công trong trận đánh vào thành phố Đà Nẵng và đặc biệt là trận tiêu diệt đồn Cẩm Lệ vào dịp Tết Nguyên đán năm 1950, Phan Lăng cắp nách khẩu Bren nặng hơn chục cân nhảy lên cầu thang đánh chiếm chỉ huy sở. Khi tên đồn trưởng vừa quay súng định bắn lại thì bị ngay một loạt đạn của Phan Lăng bắn gục, tổ xung kích từ dưới kịp thời xông lên, đồn giặc bị hạ. Sau trận đánh, Phan Lăng được Trung đoàn trưởng  Nguyễn Bá Phát  tặng bằng khen...

          Sau chiến dịch Nam Tây Nguyên, cuối năm 1950, Đại đội 9 nằm trong đội hình của Tiểu đoàn 49 được điều động sang chiến đấu ở Hạ Lào - Đông Bắc Campuchia, cuộc hành quân vượt Trường Sơn vô cùng gian khổ. Mỗi người, từ lính đến chỉ huy đều phải mang theo đủ vũ khí đạn dược, gạo, nước, lương khô trên vai... đủ dùng cho một tháng hành quân. Ngoài ra, còn phải mang thêm một số hàng hóa để tiếp tế cho mặt trận và nhân dân Lào dọc hành lang căn cứ địa.

        Phan Lăng không những mang phần mình mà còn mang giúp cho những anh em ốm đau, yếu mệt dọc đường. Trên đường hành quân, khi tiểu đoàn dừng chân nghỉ tại bản Kong-Na, sâu trong biên giới Lào, đúng vào kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, Phan Lăng đã được vinh dự kết nạp vào Đảng, đồng chí Công Danh là một trong những người được phân công theo dõi, giúp đỡ Phan Lăng từ năm 1949 đứng ra giới thiệu. Trước lá cờ đỏ búa liềm, Phan Lăng cảm động rưng rưng nước mắt, thề: "Suốt đời phấn đấu hy sinh cho chủ nghĩa cộng sản”. Tin Phan Lăng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tự nguyện sang chiến đấu chống thực dân Pháp ở Lào trong đoàn quân tình nguyện Việt Nam đã có một sự cổ vũ mạnh mẽ đối với bộ đội lúc bấy giờ.

        Đến khu Hạ Lào, các đại đội phải phân tán về bổ sung cho các mặt trận. Phan Lăng được đưa về Đại đội 200, chủ lực của khu. Anh được giao nhiệm trung đội phó trinh sát, phụ trách xây dựng cơ sở vùng bản Pui, bản Hôm. Tại đây, các bà mẹ Lào đặt tên cho anh là Bun Mi, nghĩa là “có phúc”.

        Từ đó, Bun Mi ra sức học tiếng, học chữ Lào và hòa nhập với cuộc sống của bản làng. Tháng 3-1952, Bun Mi được biệt phái sang Ban xây dựng huyện Xà-nẳm-xây để làm công tác xây dựng cơ sở. Anh đã cùng anh em xuống các bản tổ chức củng cố lại dân quân du kích và bàn kế hoạch chiến đấu bảo vệ bản làng, bảo vệ khu căn cứ. Địch ở Mường Mày được bọn gián điệp nằm vùng báo tin có một “Pháp cộng sản” thường xuyên hoạt động trong vùng, tuyên truyền chống Pháp thực dân. Dò tìm, nắm được quy luật đi lại của Bun Mi và anh em tổ công tác, chúng tung vào nhiều toán biệt kích để bắt Bun Mi.

          Một hôm, khoảng 8 giờ sáng, Bun Mi đi từ bản Hôm đến làm việc với tổ công tác bản Pui, đến một đoạn suối khô, địch nổ súng. Ngay từ loạt đại đầu, Bun Mi bị một viên đạn vào gót chân, anh cố lết vào một gốc cây bắn trả, địch thấy anh chỉ có một mình định bắt sống, anh nhanh chóng ném một quả lựu đạn vào chúng. Một số tên bị thương, chúng phải lùi lại và tập trung súng bắn vào nơi anh nấp, anh bị thương tiếp vào chân, vào vai. Thằng chỉ huy hò hét “Ta lum bon” (xung phong) nhưng chẳng thằng nào dám ra, Bun Mi vẫn bình tĩnh ném thêm một quả lựu đạn và bắn đến những viên đạn cuối cùng. Anh đã bị 7 viên đạn găm Vào mình, vết thương chảy nhiều máu khiến anh ngất đi...

         Đơn vị nghe tiếng súng vận động đến thì địch đã mang anh về đồn. Tin Bun Mi bị bắt vào Mường Mày nhanh chóng lan đi khắp các bản Hom, Pui, Úc Tạy, Úc Nửa... nhân dân buồn và thương lắm. Mẹ Bun Tha Vi buồn rầu nói: Đám cưới của Bun Tha Vi sắp tới sẽ không có Bun Mi dự và chắc chắn chẳng bao giờ gặp lại Bun Mi.

        Sáng hôm sau tỉnh dậy, đầu mình và chân tay bị băng bó, anh thấy mệt và các vết thương bắt đầu nhức nhối, đau đớn. Anh nhìn quang cảnh thấy khác lạ, hai ba tên lính ngụy Lào đang đứng bên anh. Bọn địch cố gắng đặt anh nằm ở một căn nhà gần huyện Mường Mày để cho nhân dân thị trấn qua lại thấy và biết rằng chúng đã bắt được tên Pháp cộng sản nguy hiểm. Biết là Bun Mi đã tỉnh, quan hai chỉ huy đồn Mường Mày ra gặp với mưu tính thuyết phục anh tuyên truyền nói xấu lại Việt Minh. Bun Mi nhận ra gã quan hai, chẳng là ai khác mà là một thượng sĩ đồng ngũ với anh từ hồi còn ở Đà Nẵng. Hắn đến làm thân với Bun Mi và bảo bọn lính mang bánh mỳ và cà phê sữa cho anh. Nhưng Bun Mi lạnh lùng từ chối: Không thưa ông trung úy, tôi từ lâu đã quên đi những thứ này, tôi chỉ quen ăn xổi chấm cá mắm của người Lào thôi...

          Một thời gian, vết thương đã bớt đau, tên trung úy Pháp lại đến thuyết phục Bun Mi tuyên truyền nhân dân thị xã A-ta-pư về sự chính nghĩa của mẫu quốc Pháp, anh suy nghĩ một lúc rồi trả lời đồng ý. Tên trung úy hí hửng chào cảm ơn, ra về.

      Sáng hôm sau, đông đảo lính ngụy và dân thị xã theo lệnh đồn tập trung đến nghe Bun Mi nói chuyện. Sau khi tự giới thiệu, Bun Mi nói:

        -  Bà con cùng với tôi và Lào It-xa-la chỉ là một. Chúng ta chiến đấu cho độc lập của nước Lào và tự do của nhân den Lào. Còn thực dân Pháp và bọn bù nhìn Lào là kẻ thù của chúng ta...

       Bun Mi chưa dứt lời, tên trung úy đã xua lính đến kéo anh xuống Hắn giận tái mặt và thất vọng, hắn muốn đấm ngay cho Bun Mi một quả nhưng quan tư chỉ huy khu vực Pắc-xế đã điện phải đưa được Bun Mi còn sống về để khai thác. Hắn lệnh cho bọn lính trói Bun Mi dẫn anh về trại giam. Hôm sau, khu vực Pắc-xế cho máy bay vội vã đura Bun Mi về. Đó là một ngày cuối tháng 3-1952, một ngày buồn nhất trong cuộc đời Bun Mi. Cũng từ đó, không còn tin tức gì của anh nữa.

       Sau sự kiện trên, nhân dân bản Hôm, bản Pui càng thương nhớ, cảm phục Bun Mi hơn. Khi được biết anh không còn ở Mường Mày nữa, họ nghĩ rằng anh đã bị địch thủ tiêu. Sư sãi, bà con hai bản bí mật làm lễ cầu siêu cho Bun Mi với niềm tiếc thương sâu sắc. Các bạn đồng đội Việt - Lào ai nấy đều cảm phục Bun Mi, quyết tâm chiến để trả thù cho anh...

         Tháng 9 -1996. Gần 45 năm sau! Tôi đang viết lại câu chuyện này, một buổi sáng cuối thu, trời mưa lạnh, bỗng có tiếng cô hàng xóm gọi báo cho tôi có hai người nước ngoài đến tìm gặp. Tôi  ngạc nhiên bước ra cổng, đúng là có hai người Âu, một già, một trẻ. Tôi đang còn ngỡ ngàng thì người đàn ông lớn tuổi bước tới: “Ông Nguyên! Phan Lăng đây”. Tôi thật sự vỡ òa ra vì bất ngờ và xúc động, chúng tôi ôm chầm lấy nhau ! Hình ảnh Phan Lăng mà tôi đã từng gặp và nói chuyện lần đầu tiên tại chiến khu Phú Túc (tây bắc Hòa Vang, Đà Nẵng) đầu năm 1950 sau trận tập kích vào thành phố Đà Nẵng và trận tiêu diệt đồn Cẩm Lệ lại hiện về... Phan Lăng quay lại giới thiệu chàng trai trẻ đi cùng:

       - Đây là Johan, con trai tôi, kỹ sư điện tử, làm việc với công ty Mỹ ở Bỉ nhưng nay thôi không làm nữa...

       Câu chuyện của tôi và Phan Lăng tiếp tục nối lại dòng thời gian...

Sau khi bị đưa về Pắc-xế, tên quan hai trưởng khu (chef secteur) ra sức dụ dỗ mua chuộc anh đủ các thủ đoạn để anh khai ra được tình hình quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lào, số lượng các đơn vị, tiểu đoàn, đại đội, người chỉ huy, nơi đóng quân quân đội Lào It-xa-la và cơ sở chính trị... nhưng chúng không nhận được gì ở anh ngoài câu trả lời: “Tôi là người lính, tôi không biết gì ngoài việc làm theo lệnh...”. Lấy cớ vết thương đau nhức, anh bỏ ăn, nằm suốt mấy ngày...

       Chỉ huy khu Pắc Xế sợ trách nhiệm nếu để Phan Lăng chết, hắn buộc phải chuyển anh về bệnh viện Grall Sài Gòn. Sau khi các vết thương đã lành, cuối 1952, chúng đưa anh ra Huế xử tại tòa án binh Trung Bộ và kết án anh tù chung thân vì tội “phản Quốc”!!! Rồi đưa về giam tại Pháp.

          Sau hội nghị Giơ Ne Vơ về Đông Dương 1954, anh đấu tranh để được trao trả về Việt Nam, nhưng phía Pháp bác bỏ, họ nói rằng anh không phải là tù binh quân đội Việt Nam mà là quân nhân Pháp đào ngũ. Đến tận 1962, Pháp mới trả tự do và trục xuất anh về Bỉ, quê hương anh. “... 10 năm trong lao tù của tôi, không chỉ phải chịu đựng khổ đau về vật chất mà lớn nhất chính là cái khổ phải xa những người đồng đội Việt Nam và cuộc sống chiến đấu cho lý tưởng cách mạng, xa những người dân lành Việt Nam, Lào mà tôi đã gửi gắm bao nhiêu tình cảm và yêu quý...”. Rồi bằng một giọng cảm động, anh nhỏ nhẹ nói với tôi: “...Trong sâu thẳm của lòng tôi, Việt Nam là Tổ quốc thứ hai. Sau khi được trao trả, tôi đã nhiều lần viết thư cho Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và tại Mat-NGO-V1, xin được về Việt Nam để được gặp Bác Hồ, trở lại trong hàng ngũ chiến đầu là tôi đã thề suốt đời hy sinh nhất là khi cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam đang lên cao..”. Anh còn kể cho tôi nghe một việc rất cảm động. Cách đây 15 năm, khi được biết có một tàu thủy Việt Nam đến Bỉ, anh đã tìm gặp thuyền trưởng và xin một tấm ảnh Bác Hồ đưa về treo ở đầu giường của mình để luôn được nhìn thấy Bác.

             Từ khi có Hội hữu nghị Bỉ - Việt, anh luôn tích cực tham gia hoạt động và mỗi khi được biết có người Việt Nam đến thăm thành phố Antwerpen nơi anh sinh sống, anh luôn tìm mọi cách gặp gỡ mời về nhà anh chơi để anh vơi bớt nỗi nhớ Việt Nam.

       Sau hôm gặp tôi, Phan Lăng và Johan ra Hà Nội theo địa chỉ tôi giới thiệu để tìm gặp anh Nguyễn Chính Giao, nguyên Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam Hạ Lào, người đã đem đến những quan điểm cách mạng đầu tiên cho Phan Lăng. Anh Việt Hồ nguyên là chính trị viên tiểu đoàn, người đã góp phần nào vào những trang nhật ký đẹp đẽ sau đây:

      Sáng 28/9/1996:

      Anh Giao dẫn Phan Lăng đến nhà mình. Nghe chuông reo, mình thấy anh Giao bước vào nhìn mình và chỉ ra hai người Âu, một già một trẻ đứng trước cửa: “Việt Hồ còn nhớ ai đây không?”. Linh tính như mách bảo mình nhớ lại người chiến hữu thân tình năm xưa, mình reo lên: “Ôi, Frans de Boel!” Phan Lăng ôm hôn mình. Những giây phút thật cảm động. Cả hai đều không cầm được nước mắt... cho đến khi anh Giao phải lên tiếng: “Thôi, hãy vào nhà đi đã !”.

      Ngày 29/9/1996:

     Gia đình anh Giao, anh Việt Hồ và bố con Phan Lăng đi du ngoạn trên Hồ Tây và dùng cơm thân mật.

       Sáng 30/9/1996:

       Chúng tôi đưa Phan Lăng và Johan vào Lăng viếng Bác, thăm nơi ở và làm việc của Bác. Thật bất ngờ, tuy chỉ là một cuộc viếng thăm bình thường, nhưng sau khi được nghe giới thiệu, Ban quản lý Lăng đã đón tiếp bố con Phan Lăng như một đoàn khách quốc tế, được hướng dẫn chu đáo như một cuộc viếng thăm chính thức theo nghi lễ, có bộ đội mang vòng hoa lớn có dòng chữ: “Kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Khi đi qua thi hài Bác, Phan Lăng dừng lại khá lâu, nước mắt anh tuôn trào. Ban Quản lý Lăng đã trao tặng bố con anh huy hiệu Bác Hồ...

          Chiều 30/9/1996:

         Chúng tôi tổ chức cuộc gặp mặt liên hoan thân mật giữa Phan Lăng với một số cựu chiến binh tình nguyện quân Việt Nam. Phan Lăng đã khóc khi được ôm hôn các đồng đội sau 45 năm xa cách. Phan Lăng cùng chúng tôi Lăm vông và hát các bài hát Lào một cách say sưa. Anh Giao thay mặt cho Ban liên lạc Quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lào trao Huân chương Chiến thắng Hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào cho Frans de Boel.

        Cuộc họp mặt diễn ra trang trọng và cảm động. Sau đó, chúng tôi đưa Phan Lăng đến thăm Đại sứ quán Lào tại Hà Nội và được đón tiếp rất trọng thị thân tình. Trong lúc trao đổi, đại sứ Khămsing Sây-nha-con nói: “Mời đồng chí có dịp sang Lào, để chiến sĩ và nhân dân Lào, nhất là bà con ở A-ta-pư được gặp lại người bạn chiến đấu

cũ. Đại sứ Xin được coi Bun Mi là Đại sứ nhân dân của Lào tại Vương quốc Bỉ”. Một vinh dự lớn cho Bun Mi,

            Ngày 01/10/1996:

            Chỉ còn một ngày cuối cùng ở lại Việt Nam, Phan Lăng đã viết một bản tự sự dài 8 trang bằng tiếng Pháp nói về những năm tháng hoạt động ở Lào và tình cảm của anh đối với nhân dân hai nước Việt Nam và Lào để góp vào sách của quân tình nguyện Việt Nam ở Hạ Lào,

        Ngày 02/10/1996:

        Tiễn Phan Lăng và Johan ra sân bay Nội Bài để về Bỉ. Một cuộc tiễn đưa đầy lưu luyến và cảm động. Phan Lăng ôm tôi và các đồng chí ra tiễn, mắt rưng lệ nói: “Lần này sang thăm Việt Nam, thăm bạn bè, tôi đưa Johan con trai tôi đi theo để nó biết đất nước Việt Nam quê hương thứ hai của bố nó và tôi cũng đã xin thị thực của Tổng lãnh sự quán Lào tại Sài Gòn để sang Lào thăm chiến trường xưa, thăm nhân dân A-ta-pu, những người dân Lào mà tôi vô cùng yêu quý. Ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã dẫn Johan đến xem nhà tù ở đường Ca-ti-na nơi tôi bị giam giữ. Ở Huế, tôi dẫn cháu đến nơi ngày xưa tôi bị Tòa án quân sự Pháp xử án tôi. Tại Quảng Nam, tôi về Đại Lộc thăm lại vị trí Núi Lỡ nơi mà tôi đã chiến đấu và bị thương. Chúng tôi cũng đến thăm vợ, con đồng chí Danh và thắp hương tưởng niệm đồng chí Danh, người đã giới thiệu tôi vào Đảng. Tôi vô cùng hạnh phúc và sung sướng vì ở đâu các đồng chí Việt Nam và Lào cũng xem tôi và con tôi như những người anh em ruột thịt. Đặc biệt là Johan, con trai tôi, đã thấy tận mắt những tình nghĩa cao quý đó, những điều mà trước đây chỉ nghe tôi nói cho bạn bè và gia đình tôi ở Bỉ, mặc dù chúng ta đã xa nhau nửa quả cầu và gần nửa thế kỷ..”

           Bước vào sân bay, Phan Lăng và Johan còn ngoảnh lại vẫy tay: “Tạm biệt các bạn và với bất cứ giá nào tôi cũng trở lại Việt Nam vào ngày 19/8/1998 kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Tình nguyện quân | Việt Nam tại Hạ Lào - Đông Bắc Campuchia...

 

                                                Hoài Nguyên, Việt Hồ

                                                  KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH TẬP 8

 

 



  • Bản quyền thuộc: Ban Liên lạc Toàn quốc Quân tình nguyện & Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào
     (79-81 Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
    Địa chỉ ban biên tập: Số 1 An Dương, Quận Tây Hồ, Hà Nội
    Hộp thư điện tử: banbientapwqtn@gmail.com
    Trưởng ban Biên tập: Chuyên viên cao cấp Lê Mai
    Phó trưởng ban Biên tập: Thạc sỹ, Đại tá  Nguyễn Quốc Chinh
    Thư ký ban Biên tập: Đại tá Nguyễn Hữu Đức
    Quản trị Website : Trung tá Bùi Minh Sơn
  • Số người đang online: : 10
    Tổng số lượt truy cập: 363267
    Copyright @ 2016. Designed by DTC