Mưa rừng Xiêng Khoảng

   

 

Nhắc đến kỷ niệm về Cánh Đồng Chum-xiêng Khoảng không thể không nhớ những mùa mưa, những mùa mưa còn ướt đẫm trong lòng cựu chiến binh quân tình nguyện cho đến tận bây giờ. Cái mảnh đất núi cao, rừng thẳm ấy cộng với khí hậu nhiệt đới gió mùa đã sản sinh ra hai mùa rõ rệt đối nghịch nhau như âm với dương, như nước với lửa : mùa khô và mùa mưa.

            Nếu mùa khô, bằng những cơn gió heo may đầu thu báo hiệu mùa chiến dịch, những binh đoàn rậm rịch rời hậu cứ lên đường, thì mùa mưa, thường bắt đầu từ giữa tháng 4, báo hiệu một thời kỳ cam go đang đến. Mùa mưa đến, nghĩa là những GM Vàng Pao, BV, BS, AC...Thái Lan như những vòi bạch tuộc đen từ Sảm Thông, Long chẹng, Khang Kho, Nậm Cọ, từ SaLaPhuKhun, Buôm Lọng...luồn rừng, nhảy cóc bằng trực thăng nống ra Cánh Đồng Chum. Mùa mưa, đồng nghĩa với tiếp tế khó khăn, khẩu phần ăn giảm xuống mức tối thiểu, gạo, đạn phải dè xẻn. Đất trời như cũng đứng về phía giặc, trút xuống những cơn mưa tầm tã. Núi rừng mờ mịt trong màn mưa trắng xóa, hết cơn này đến cơn khác như không bao giờ dứt. Rừng già đẫm nước, đất trong chiến hào, công sự, hầm trú ẩn biến thành một thứ cháo bột sền sệt, quãng đường mùa khô đi mất chừng hai giờ nay thành ba, bốn giờ, ngã oành oạch như bổ củi. Những người lính gầy gò, da xanh tái vì thiếu ăn, sốt rét, sốt mò, vì thiếu cả ánh mặt trời, áo quần ẩm ướt quện bùn, hôi hám, rách rưới tả tơi...mím chặt đôi môi thâm xịt, nghiến răng, gồng mình chịu đựng đạn bom, muỗi vắt, ghẻ ngứa, hắc lào, chịu đựng đói rét, đem hết sức tàn, lực kiệt chống trả những cuộc tấn công dồn dập của quân thù. Tiếng bom tọa độ, tiếng pháo cối nổ trong mưa rền vang âm âm, thúc vào ngực đến tức thở.

        Đường vận tải ô tô tắc hẳn bởi bom giặc một phần, bởi mưa lũ tám chín phần. Hàng ngàn khối đất đá từ Ta luy dương sụt xuống lấp hàng trăm mét đường những quãng Đèo Đất, Đèo Đá, đèo Phu Nốc Cốc, nhiều đoạn đường biến mất dưới vực sâu hun hút như chưa hề tồn tại. Trên vài đoạn còn lại, cây cối, rêu cỏ đã  bò lan cả ra mặt đường từ lâu không dấu bánh xe lăn. Con đường chết gợi lên cảm giác cô đơn, hoang vu trong lòng bộ đội, hậu phương như càng xa ngái mịt mùng đâu đó nơi chân trời phía đông.

         Ẩn trong rừng già, núi thẳm, lượn ngoằn ngoèo bên những vách đá cao dựng đứng hay vực thẳm chênh vênh là con đường mòn bộ binh như một sợi chỉ mong manh bắt đầu từ Khăng Malen – Noọng Hét, điểm cuối cùng những chiếc GAZ.63, ZIL.157 từ hậu phương có thể chạy đến đổ người và hàng. Từ đây, bắt đầu những ngày hành quân bộ. Rừng ổi, Pha Tông Ching, hang ông Sương, Phu Tatving, bản Nôn, bản Nhôm, bản Khăng Mươi...rồi K2, khe đá 2, nhánh rẽ trái đi Thali Nọi, Phu Nhu, Mường Phàn, bản Thẳm, nhánh rẽ phải lên Mã Tử đi ngã ba Noỏng Pết (Noọng Pẹt).

           Trên những con dốc dựng ngược lên trời, cắm thẳng xuống vực, trơn như đổ mỡ, những tốp, những đoàn người đi vào, đi ra lầm lũi trong màn mưa trắng trời trắng đất. Nếu đi vào chỉ có hai loại người : Bộ đội, dân công hỏa tuyến thì đi ra trái lại, đủ dạng : những cáng thương binh trùm tăng ni lông thấp thoáng những khuôn mặt xanh rớt, những cẳng chân, cánh tay cắt cụt quấn băng thấm máu nâu đen, những gia đình dân Lào già trẻ bồng bế lếch thếch, dắt ngựa, ôm gà cùng vài ba thứ quần áo, nồi niêu cũ kỹ, méo mó. Thi thoảng có đôi ba người mặc quân phục thoạt nhìn lành lặn, không súng, không mũ, có người không cả ba lô, bước chân cố làm ra vẻ bình thản nhưng ánh mắt vẫn lấm lét, đa phần nhìn xuống, ấy là những kẻ “đi lạc” nhưng chỉ “lạc” ra phía ngoài chứ không bao giờ lạc vào phía trong, gọi tắt là đào ngũ.

       Làm gì có tiếng cười đùa, hát hò trêu chọc vui vẻ như trong tác phẩm của mấy ông nhà văn ngồi dưới đèn Nê-ông trong phòng ấm áp, khô ráo ở hậu phương “sáng tác” về cái lãng mạn hào hùng của chiến trường ?! Cũng chẳng thấy: “...Đường ra trận mùa này đẹp lắm !!!...” ở chỗ nào.  Ngoài tiếng mưa ào ạt, tiếng đạn bom và sấm chớp, chỉ có tiếng thở hổn hển, tiếng văng tục và tiếng quát. Cả cái người vừa quát kia hình như cũng không còn hơi sức nên tiếng quát chỉ gằn trong cổ như tiếng gầm gừ của loài thú. Hơi nước bốc lên từ những đôi vai  ướt đẫm, mùi quần áo ẩm, mùi mồ hôi, mùi lá rừng mục hòa lẫn nhau thành thứ mùi đặc trưng của cuộc hành quân. Mưa ào ào rồi tạnh, rồi lại mưa, lại tạnh. Muôn ngàn dòng nước nhỏ chảy trên núi xuống hợp thành con suối lớn, nước đỏ ngầu, cuồn cuộn đập vào những tảng đá ven bờ tung lên những đám bọt trắng như bờm của bầy ngựa bất kham. Trên thân gỗ đổ đầy rêu vắt ngang dòng Khe Đá 2, một người lính dò dẫm, run run bước qua, chỉ một thoáng xảy chân, anh ta rơi thẳng xuống dòng nước xoáy đang gầm réo như thú dữ trước sự bất lực của những người chứng kiến. Trong nháy mắt, người lính xấu số đã mất dạng trong hang, nơi con suối dữ dằn đang hồng hộc chui vào. Ba ngày sau, những người chờ ở cửa hang phía nước chảy ra đành thất vọng thu tăng, cuốn võng lên đường bởi xác anh đã mắc đâu đó trong cái hang ngầm dài mấy trăm mét kia.

          Gò lưng bước từng bước chậm chạp dưới sức nặng của hai ống đạn DKZ 82, cô gái mặc quân phục quân giải phóng nhân dân Lào đội chiếc mũ mềm xanh cây lưỡi trai đen, mồ hôi và nước mưa làm bết những lọn tóc mai trên khuôn mặt bầu bĩnh vừa thở, vừa cười với anh lính công binh đang đánh bậc trên đường:

       - Ại ơi ! noọng lộm chí tai ! (Anh ơi ! em ngã gần chết !).

 Nụ cười của cô gái đại đội vận tải bạn Lào sáng lên trong cơn mưa rừng âm u. Người lính công binh vụng về đưa bàn tay bợt bạt chùi vết máu trên má cô:

           - Ốt thôn me ! Noọng sao ! (cố lên nhé ! Em gái !)

       Trong một hõm đá ẩm ướt ngay cạnh đường mòn, chủ nhiệm công binh mặt trận dõi đôi mắt thiếu ngủ đỏ ngầu như muốn chọc thủng mảnh bản đồ địa hình 1/50 000, trên môi ông, điếu thuốc cuốn bằng thứ thuốc lá hái trên nương Lào Thơng tỏa khói mù mịt, khét lẹt. Cái sẹo dài trên mặt, vết cháy bom Na Pal thời đánh Pháp đôi lúc giật giật, ông đang rất căng thẳng, bực bội. Lúc này, thật vô phúc cho thằng lính nào, dù chỉ vô tình, châm ngòi cho cơn bực ấy bùng phát. “Phần thưởng” nhận được chắc chắn sẽ là một trận “tổng xỉ vả” kinh khủng nhất trong đời lính của hắn.

          Vài lần tạnh ráo trong ngày là lúc trên nền trời xám xịt, vần vũ mây xám, mây đen xuất hiện đủ loại máy bay. Những chiếc RF.4C lật ngiêng, tạt ngửa gầm rít nhức tai, cái L.19 lặng lờ gần như đứng im trên cao chẳng khác gì một cánh diều hiền lành, phải lắng tai mới nghe tiếng động cơ vo ve như tiếng muỗi. Trên khu rừng tre cánh đồng bản Ban một cái “gọng bừa” (OV.10A) đang nhao lên, nhao xuống kêu ò ò như lợn bị chọc tiết. Phía xa trong Cánh Đồng Chum vài tốp T.28 nhìn bé li ti như đàn nhặng lượn vòng quanh cái đám khói hình nấm đang mỗi lúc một phình to, vọng lại mơ hồ tiếng bom bi lục bục, tiếng 20 ly nổ lốp bốp. Dưới tán rừng rậm rạp, một đơn vị đang dừng chân nấu ăn, làn khói trắng mỏng như sương bảng lảng tỏa ra trên những rãnh thoát khói bếp Hoàng Cầm, văng vẳng tiếng loa khi được, khi mất lẫn trong tiếng C.47: “...Các cán binh cộng sản Bắc Việt...bị bao vây...vô ích...hãy nhanh chóng...quân đội hoàng gia Ai lao...”. Đó đây, những tờ truyền đơn in hình ba con voi châu đít vào nhau lem nhem bùn đất bởi dấu giày dẵm lên của muôn người qua lại. Những người lính nằm ngồi ngổn ngang đợi cơm, vài người ngủ gà ngủ gật, lưng vẫn đeo ba lô, vài người khác tụt giày, xắn quần gỡ những con vắt no tròn bám trên cổ chân, bắp chân, vết máu từ chỗ bị vắt cắn chảy đỏ tươi trên những cái cẳng chân trắng nhợt vì ngâm nước. Dưới gốc một cây to, thân vươn cao trên tán rừng, mấy cán bộ chụm đầu quanh tấm bản đồ chỉ trỏ, bàn cãi. Gần đấy, người lính thông tin đeo cáp nghe ngồi xổm trước cái máy 2W kiên nhẫn nhắc đi, nhắc lại những tràng mật ngữ kỳ quặc về các dòng sông, tôm, cua và các loại quả. Lệnh tiếp tục hành quân, cả đoàn người rùng rùng chuyển động, tiếng vũ khí, khí tài lách cách, tiếng cán bộ nhắc nhở ngụy trang, dập bếp hòa trong tiếng lính lao xao, dăm ba tiếng văng tục. Mươi phút sau khu rừng trở lại sự yên tĩnh vốn có, chỉ còn lại chút khói tàn trên những cái bếp đang tắt, vỏ lương khô, dăm cái vỏ hộp vùi vội thấp thoáng trong lá mục và những dấu giày.

         Trời lại đổ mưa, mưa mỗi lúc một to. Cái báng AK của người lính đi cuối cùng chống lên tấm ni lông quàng sau lưng tạo thành một hình nhân kỳ lạ nửa hư, nửa thực nhòa dần trong những hạt mưa bay xiên xiên. Trong mưa, dấu chân của những người lính trên đường mòn cũng mờ dần rồi mất hẳn. Những cơn mưa rừng Xiêng Khoảng còn rơi trong lòng chúng tôi đến hôm nay.

                                                                                          Nhớ mùa mưa năm 1969

                                                                                                      Ngọc Lan

                                       

                        

 

                                                                                                  



  • Bản quyền thuộc: Ban Liên lạc toàn quốc Quân tình nguyện & Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Cách mạng Lào
    Địa chỉ: Số 79-81 Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
    Địa chỉ ban biên tập: Số 1 An Dương, Quận Tây Hồ, Hà Nội
    Hộp thư điện tử: banbientapwqtn@gmail.com
    Trưởng ban Biên tập: Chuyên viên cao cấp Lê Mai
    Phó trưởng ban Biên tập: Thạc sỹ, Đại tá  Nguyễn Quốc Chinh
    Thư ký ban Biên tập: Đại tá Nguyễn Hữu Đức
    Quản trị Website : Trung tá Bùi Minh Sơn
  • Số người đang online: : 11
    Tổng số lượt truy cập: 276433
    Copyright @ 2016. Designed by DTC